Thuyết minh thiết kế

Dự án GXD

Dùng là thích, kích là sướng
#1
Features of the Project

The Project includes the development of a new landfill, widened and improved access road, expansion and improvement of the current system of garbage collection and transportation, and a facility to process the garbage into a renewable resource as an agricultural product (compost). The new landfill will be developed in stages to accept all rejected material from the composting operation, not suitable for composting.

The Project consists of a complete integrated solid waste management project strategy and will include the following:
a. Improve the collection efficiency of all domestic wastes with a new collection system utilizing new compaction vehicles and more efficient utilization of these vehicles and waste transfer techniques.

b. Improve the collection of sewage sludge from drains by using new vacuum tankers.

c. Expand and improve the collection of industrial wastes at individual factories and export processing zones.

d. Provision of new street & gutter vacuum sweepers to maintain clean streets.

e. Establishment of a new landfill operation adjacent to the new compost processing plant and will include all necessary facilities such as weighbridge, electricity, water supply and drainage system.

f. Implementation of a modern and efficient 200 tons per day recycling and composting facility for all domestic solid wastes, This will include all infrastructure such as power extension, well water supply, drainage system, site civil works and all facility buildings for the composting plant, truck maintenance and repair workshop, office worker hostel and laboratory.

g. Provide fencing and gate control facilities to secure the site including weighbridge, and enable performance monitoring of all incoming vehicles.

h. Provide collection, treatment, and discharge systems for all leachate contaminated waters so as to meet effluent requirements to support the water quality needs of the receiving water body and any down gradient receiving waters.

i. Provide an odor and gas removal and treatment systems for composting facilities and new landfill.

j. Provide parking space for landfill equipment and vehicles which will serve the facility.

k. Provide washing facilities for landfill equipment.

l. Provide office facilities for site supervisors and support staff, as well as for training and meetings.

m. Construction Cost
We have estimated in detail the capital cost of the project from the installation of mechanical equipment through to the completion of the infrastructure and civil works. The capital cost includes compaction vehicles etc. A project cost monitoring program will be implemented to ensure that the project costs are controlled and monitored on a monthly basis and contained within the contract value. It is proposed that an operational and maintenance training program be provided for the operation and maintenance of the landfill and composting facility.

Nào, mời các cao thủ. Chúng ta cùng dịch.
 
A

aivanhoe

Guest
#2
Features of the Project
Những đặc trưng của dự án

The Project includes the development of a new landfill, widened and improved access road, expansion and improvement of the current system of garbage collection and transportation, and a facility to process the garbage into a renewable resource as an agricultural product (compost). The new landfill will be developed in stages to accept all rejected material from the composting operation, not suitable for composting.
Dự án bao gồm sự phát triển bãi chôn rác mới, mở rộng và phát triển đường vào, mở rộng và phát triển hệ thống thu thập và vận chuyển rác thải, và phương tiện xử lý thu hồi tài nguyên rác, như là một sản phẩm phục vụ nông nghiệp (phân bón). Loại vật liệu mới sẽ phát triển trong phạm vi chấp nhận mọi vật liệu bỏ đi bằng công nghệ vi sinh, không phù hợp với phân bón.
The Project consists of a complete integrated solid waste management project strategy and will include the following:
Dự án gồm có việc quản lý hoàn thành việc gom rác và sẽ bao gồm như sau:
a. Improve the collection efficiency of all domestic wastes with a new collection system utilizing new compaction vehicles and more efficient utilization of these vehicles and waste transfer techniques.
a. Cải tiến hiệu quả thu gom các loại rác thải sinh hoạt và hệ thống thu thập mới sử dụng xe nén ép rác kiểu mới và sử dụng hiệu quả hơn những loại xe và phương tiện kỹ thuật vận chuyển rác.
b. Improve the collection of sewage sludge from drains by using new vacuum tankers.
b. Cải tiến việc thu gom bùn cặn trong ống cống bằng cách sử dụng xe hút chân không mới.
c. Expand and improve the collection of industrial wastes at individual factories and export processing zones.
c. Mở rộng và cải tiến việc thu gom rác thải công nghiệp trong các nhà máy riêng lẻ và các cụm gia công hàng xuất khẩu.
d. Provision of new street & gutter vacuum sweepers to maintain clean streets.
d. Cung cấp tuyến đường mới và máy hút bụi để làm sạch các đường phố.
e. Establishment of a new landfill operation adjacent to the new compost processing plant and will include all necessary facilities such as weighbridge, electricity, water supply and drainage system.
e. Xây dựng bãi rác thải mới hoạt động sát bên nhà máy chế biến phân bón mới và bao gồm các phương tiện cần thiết như cân cầu đường, điện, hệ thống cấp thoát nước.
f. Implementation of a modern and efficient 200 tons per day recycling and composting facility for all domestic solid wastes, This will include all infrastructure such as power extension, well water supply, drainage system, site civil works and all facility buildings for the composting plant, truck maintenance and repair workshop, office worker hostel and laboratory.
f. Bổ sung thiết bị hiện đại và xử lý hiệu quả 200 tấn rác tái sinh mỗi ngày và chế tạo phân bón cho mọi chất thải sinh hoạt ở dạng rắn. Nó sẽ gồm các thiết bị như nguồn điện mở rộng, hệ thống cấp nước tốt, hệ thống thoát nước, mặt bằng nhân công, xây dựng nhà máy phân bón, phương tiện bảo dưỡng và sửa chữa nhà máy, nhà ở tập thể cho người lao động và phòng thí nghiệm.
g. Provide fencing and gate control facilities to secure the site including weighbridge, and enable performance monitoring of all incoming vehicles.
g.Cung ứng hàng rào và cổng điều khiển để đảm bảo an toàn cho công trình bao gồm cần cầu đường, màn hình theo dõi xe cộ ra vào.
h. Provide collection, treatment, and discharge systems for all leachate contaminated waters so as to meet effluent requirements to support the water quality needs of the receiving water body and any down gradient receiving waters.
h. Cung ứng rác thải thu thập, xứ lý và các hệ thống lọc bỏ nước thải từ rác làm ô nhiễm nguồn nước với mục đích là đưa ra nhu cầu cung cấp nguồn nước chất lượng cho nhu cầu con người và nguồn nước ngầm.
i. Provide an odor and gas removal and treatment systems for composting facilities and new landfill.
i. Cung cấp dấu vết và di dời khí độc và nghiên cứu hệ thống cho nhà máy phân bón và bãi rác thải mới.
j. Provide parking space for landfill equipment and vehicles which will serve the facility.
j. Cung cấp chỗ đậu xe cho xe cộ và thiết bị chở rác.
k. Provide washing facilities for landfill equipment.
k. Cung cấp điều kiện làm sạch cho xe chở rác thải.
l. Provide office facilities for site supervisors and support staff, as well as for training and meetings.
l. Cung cấp tiện nghi văn phòng cho các nhân viên giám sát hiện trường và nhân viên trợ giúp, cũng như cho việc đào tạo và các buổi hội họp.
m. Construction Cost
We have estimated in detail the capital cost of the project from the installation of mechanical equipment through to the completion of the infrastructure and civil works. The capital cost includes compaction vehicles etc. A project cost monitoring program will be implemented to ensure that the project costs are controlled and monitored on a monthly basis and contained within the contract value. It is proposed that an operational and maintenance training program be provided for the operation and maintenance of the landfill and composting facility.
m. Chi phí xây dựng.
Chúng ta phải ước tính chi tiết vốn cơ bản của dự án từ việc lắp đặt thiết bị yêu cầu cho đến việc hoàn thành cơ sở hạ tầng. Vốn cơ bản bao gồm cả xe để ép rác...Kế hoạch kiểm tra vốn của dự án sẽ được thực hiện để đảm bảo là chi phí của dự án được kiểm tra và giám sát trên cơ sở mỗi tháng và bao gồm việc giới hạn chi phí trong hợp đồng. Điều này đảm bảo cho việc hoạt động và duy trì chương trình huấn luyện cho hoạt động và bảo quản bãi rác thải và nhà máy phân bón.

Các bác kiểm tra lại dùm em chút! Có nhiều chỗ em thấy nó sao sao ấy!!
 
Last edited by a moderator:

DutoanGXD10

Phần mềm thế hệ mới
#3
Mình chưa dịch tài liệu về rác thải bao giờ, nay thử sửa lại bài của Ivanho chút nhé, xem có xuôi hơn không :)

Features of the Project
Đặc trưng của dự án

The Project includes the development of a new landfill, widened and improved access road, expansion and improvement of the current system of garbage collection and transportation, and a facility to process the garbage into a renewable resource as an agricultural product (compost). The new landfill will be developed in stages to accept all rejected material from the composting operation, not suitable for composting.

Công việc của Dự án bao gồm: xây dựng một bãi chứa rác mới, mở rộng và tu bổ đường vào, mở rộng và cải thiện hệ thống thu gom và vận chuyển rác thải hiện có, xây dựng một nhà máy xử lý để chế biến rác thành một loại tài nguyên tái phục hồi, như phân bón cho nông nghiệp . Bãi rác mới sẽ được xây dựng theo giai đoạn để có thể chứa được tất cả các rác thải sau quá trình sản xuất phân bón và rác không thể dùng để sản xuất phân bón.

The Project consists of a complete integrated solid waste management project strategy and will include the following:
Dự án gồm một chiến lược hoàn chỉnh cho dự án hợp phần quản lý chất thải rắn và sẽ bao gồm những nội dung sau :

a. Improve the collection efficiency of all domestic wastes with a new collection system utilizing new compaction vehicles and more efficient utilization of these vehicles and waste transfer techniques.
a. Nâng cao hiệu quả thu gom rác thải sinh hoạt bằng việc sử dụng xe nén ép rác kiểu mới , đồng thời nâng cao việc sử dụng hiệu quả các phương tiện này và các kỹ thuật vận chuyển rác thải.

b. Improve the collection of sewage sludge from drains by using new vacuum tankers.
b. Cải tiến việc thu gom bùn cặn trong các cống, mương thải bằng cách sử dụng các xe hút chân không mới.

c. Expand and improve the collection of industrial wastes at individual factories and export processing zones.
c. Mở rộng và cải thiện việc thu gom rác thải công nghiệp trong các nhà máy và các khu chế xuất.

d. Provision of new street & gutter vacuum sweepers to maintain clean streets.
d. Cung cấp các máy quét đường hút chân không mới để giữ sạch các đường phố.
(Chỗ này mình hiểu là máy quét đường loại dùng chân không để hút bụi, rác và nước đọng (gutter) song có sẽ không cần ghi rõ như vậy)

e. Establishment of a new landfill operation adjacent to the new compost processing plant and will include all necessary facilities such as weighbridge, electricity, water supply and drainage system.
e. Xây dựng khu điều hành bãi rác mới sát nhà máy chế biến phân bón mới. Khu điều hành sẽ có các cơ sở vật chất cần thiết như cầu cân, hệ thống điện, cấp và thoát nước.
(weighbridge là cái cầu cân, để cân được cả xe và hàng , được sử dụng ở các trạm cân xe quá tải, hoặc ở các nhà máy lớn phải cân hàng nhập xuất)

f. Implementation of a modern and efficient 200 tons per day recycling and composting facility for all domestic solid wastes, This will include all infrastructure such as power extension, well water supply, drainage system, site civil works and all facility buildings for the composting plant, truck maintenance and repair workshop, office worker hostel and laboratory.
f. Xây dựng một nhà máy tái sinh rác và chế biến phân bón hiện đại và hiệu quả với công suất 200 tấn/ngày để xử lý toàn bộ rác thải sinh hoạt loại rắn. Công trình sẽ bao gồm toàn bộ việc xây dựng cơ sở hạ tầng như kéo thêm đường điện, hệ thống cấp thoát nước tốt, các công trình dân dụng phụ trợ cùng tất cả nhà xưởng cho nhà máy sản xuất phân bón, xưởng bảo dưỡng sửa chữa xe máy, nhà ở tập thể cho nhân viên và phòng thí nghiệm.

site works có thể hiểu là các công trình phụ trợ, ví dụ như thoát nước, nhà xe.... Civil works là công trình dân dụng. Workshop là cái xưởng cơ khí.


g. Provide fencing and gate control facilities to secure the site including weighbridge, and enable performance monitoring of all incoming vehicles.
g. Cung cấp và xây dựng tường rào, cổng và các thiết bị điều khiển để đảm bảo an toàn cho công trình kể cả cầu cân và đảm bảo có thể kiểm soát hoạt động của tất cả xe cộ ra vào.
Chỗ này mình hơi băn khoăn, có phải là " fencing and gate and control facilities" hoặc "fencing, gate and control facilities" hay không. Vì nếu là gate control facilties thì theo mình hiểu chỉ là thiết bị để điều khiển cổng thôi. Phải có cái cổng nữa chứ nhỉ.

h. Provide collection, treatment, and discharge systems for all leachate contaminated waters so as to meet effluent requirements to support the water quality needs of the receiving water body and any down gradient receiving waters.

h. Cung cấp và xây dựng các hệ thống thu gom, xử lý và xả cho toàn bộ số nước thải từ rác để đạt được yêu cầu cho nước dòng nhánh nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng nước cho khu chứa nước thải chung cũng như tất cả các dòng nước ngầm bên dưới.

Leachate contaminated waters theo mình hiểu là nước thải chảy ra khi ép và sau quá trình xử lý rác . Eflluent requirements, theo mình hiểu, là yêu cầu về chất lượng nước đối với nước của một nhánh chảy vào một khu chứa chung. Receiving water body thì chắc là một cái bể chứa nước thải qua xử lý rồi. Down gradient receiving waters thì hiểu là các mạch thu nước (thải )chảy hoặc ngấm tự do xuống.

i. Provide an odor and gas removal and treatment systems for composting facilities and new landfill.
i. Cung cấp các hệ thống khử và xử lý mùi và khí ga cho nhà máy sản xuất phân bón và bãi rác mới.

j. Provide parking space for landfill equipment and vehicles which will serve the facility.
j. Xây dựng bãi đỗ xe dành cho các phương tiện vào ra bãi rác và nhà máy sản xuất phân bón.

k. Provide washing facilities for landfill equipment.
k. Cung cấp các phương tiện vệ sinh cho xe cộ và thiết bị chở rác.

l. Provide office facilities for site supervisors and support staff, as well as for training and meetings.
l. Cung cấp trang thiết bị văn phòng cho giám sát hiện trường và nhân viên trợ giúp, trang thiết bị văn phòng cho đào tạo và hội họp.

m. Construction Cost
We have estimated in detail the capital cost of the project from the installation of mechanical equipment through to the completion of the infrastructure and civil works. The capital cost includes compaction vehicles etc. A project cost monitoring program will be implemented to ensure that the project costs are controlled and monitored on a monthly basis and contained within the contract value. It is proposed that an operational and maintenance training program be provided for the operation and maintenance of the landfill and composting facility.

m. Chi phí xây dựng.
Chúng tôi đã tính toán chi tiết chi phí cho dự án từ khâu lắp đặt thiết bị cơ khí đến khi hoàn thành việc xây dựng các công trình hạ tầng và dân dụng. Chi phí Dự án cũng bao gồm cả việc mua sắm xe tải nén rác ..vv. Chương trình quản lý chi phí dự án sẽ được thực hiện để đảm bảo rằng các chi phí dự án được quản lý và kiểm soát theo tháng và nằm trong giới hạn giá trị hợp đồng. Chúng tôi đề xuất rằng cần có chương trình đào tạo vận hành và bảo trì cho việc vận hành và bảo trì bãi rác và nhà máy xử lý rác.

Đề nghị các bạn cho thêm ý kiến.
 

Dự án GXD

Dùng là thích, kích là sướng
#4
Rất cảm ơn bài dịch của chị Hugolina và Aivanhoe. Em thấy bài dịch của chị Hugolina sửa của Aivanhoe đã khá chuẩn rồi.

Trong bài này, chúng ta cần lưu ý các từ sau:

- Landfill: bãi chôn lấp
- Update: nâng cấp/cải tạo (cụ thể trong bài là nâng cấp/cải tạo đường)
- Garbage collection: thu gom rác (không phải thu thập)
- New vacuum tanker: xe hút chân không mới
- Collection of sewage sludge: thu gom bùn cặn
- Export processing zone: khu chế xuất
- New street & gutter vacuum sweeper: Máy (xe) quét đường chân không
- Weigh bridge: cầu cân (như chị Hugolina đã giải thích)
- Compost processing plant: nhà máy chế biến phân
- Compost: phân ủ/phân trộn (chế biến từ rác thải rắn)
- Fencing & gate control facilities: thiết bị điều khiển cổng và hàng rào
- Leachate: nước rác (nước chảy từ rác)
- Washing facilities for landfill equipment: máy cọ rửa thiết bị chôn lấp (thiết bị chở rác..)


Mời các bạn cho ý kiến tiếp.
 

DutoanGXD10

Phần mềm thế hệ mới
#5
Thực ra khi dịch chữ landfill mình đã rất băn khoăn. Mình đã tra từ "landfill" trong Wikipedia, bản chất của landfill là bãi chôn rác, tức là rác được vận chuyển đến, rồi được chôn và có thể phun hóa chất lên trên nữa. Song ở tài liệu trên thì rác lại được đưa vào xử lý để chế biến thành phân bón. Vì thế mình không chọn từ "bãi chôn rác", mà dịch là " bãi chứa rác". Không biết như thế hợp lý chưa nhỉ?
 
A

aivanhoe

Guest
#6
Cảm ơn chj đã chỉnh sửa dùm. Xem lại bài dịch của chị thấy suôn sẻ thật.:cool::cool:
 
A

aivanhoe

Guest
#7
Membrane-Based Technology For Water Purification Under Development
Two Michigan State University professors, Volodymyr Tarabara and Tom Voice, are leading an ambitious project to purify the world’s waters. Tarabara and Voice are leading an international partnership of environmental engineers and scientists from two U.S. research universities, two research centers in France, and three institutions in Ukraine and Russia that will create new technologies for the project.

With the biggest funding of its kind – a $2.5 million grant – by the National Science Foundation (NSF), the team leaders are bringing together domestic and international expertise, as well as investing in students, to develop water purifying strategies using what are called “membrane-based” technologies.

“Membrane-based technologies selectively remove things such as chemicals and particles from water,” said Voice, professor of civil and environmental engineering. “They are analogous to filters except they remove things that are smaller and separate on the basis of chemistry and size. Our project is looking at developing new types of membranes and membrane systems that perform better in water treatment applications.”

Membranes can produce ultrapure water, removing almost everything.

“They are used in some places to turn sea water into fresh water,” said Voice. “The challenge is to do this cost effectively, and we seek to do this by improving their performance.”

Development of robust membranes is a significant opportunity to enhance the quality of water and, ultimately, public health, especially in developing countries.

“NSF’s initiative to invest in international education and research is relatively new,” said Tarabara, assistant professor of civil and environmental engineering. “It was motivated by the recognition that the world is becoming increasingly more global and that for American graduates to successfully compete with researchers from other countries, they have to be better prepared for the challenges of working in the global marketplace.”

The team’s strength, said Tarabara, is that each institution brings something unique to the table.

“For example, research to develop stronger hollow fiber membranes will unite the world-renowned expertise in carbon nanotube chemistry at Rice University with the knowledge of hollow fiber membrane manufacture and optimization at France’s National Polytechnic Institute of Toulouse,” he said.

“Development of high-flux membranes to remove heavy metal contaminants will include the group in Kiev, which is heavily involved in this work due to local environmental contamination, along with a group from MSU which is developing high-flux membranes that reject large molecules.”

This project also internationalizes the experience of the students involved by enhancing the learning competencies that reflect the knowledge, attitudes and skills essential to living and working as global citizens when they graduate.

“One premise of our partnership is that students are powerful catalysts for research collaboration,” Tarabara said. “Our research will be organized in international teams in which at least one doctoral student from a foreign institution will be teamed with a student from a U.S. institution.”

Currently, seven graduate students – four from MSU and three from Duke University – are funded through this project.

This project also emphasizes diversity in graduate student recruitment and works with existing conduits to K-12 programs. The partnership will maximize opportunities for involvement of underrepresented minorities and women and will have an impact on future generations of scientists, according to Tarabara.

When the nonrenewable five-year, grant expires, Tarabara said, the project will live on.

“We are working with industrial partners in the United States and abroad to ensure that the project is sustained after the NSF funding is over,” he said.
Mời mọi người cùng thảo luận dịch đoạn này!
 
A

aivanhoe

Guest
#8
Dưới đây là bản dịch của mình. Mọi người kiểm tra lại dùm mình với! Cảm ơn nhiều!!:rolleyes::rolleyes:

Membrane-Based Technology For Water Purification Under Development
Triển vọng phát tri ển công nghệ màng lọc nước cho việc làm sạch nước

Two Michigan State University professors, Volodymyr Tarabara and Tom Voice, are leading an ambitious project to purify the world’s waters. Tarabara and Voice are leading an international partnership of environmental engineers and scientists from two U.S. research universities, two research centers in France, and three institutions in Ukraine and Russia that will create new technologies for the project.
Hai giáo sư trường đại học bang Michigan Volodymyr Tarabara and Tom Voice đang dẫn dắt một dự án đầy tham vọng là làm sạch các nguồn nước trên thế giới. Tarabara and Tom đang dẫn dắt một hiệp hội quốc tế về môi trường, gồm các kỹ sư và nhà khoa học đến từ hai trường đại học nghiên cứu của Mỹ. Hai trung tâm nghiên cứu ở nước Pháp và ba tổ chức ở Ukraine và Nga sẽ tạo ra những công nghệ mới cho dự án.
With the biggest funding of its kind – a $2.5 million grant – by the National Science Foundation (NSF), the team leaders are bringing together domestic and international expertise, as well as investing in students, to develop water purifying strategies using what are called “membrane-based” technologies.
Với nguồn tài chính lớn nhất là 2,5 triệu đô la được cấp bởi tổ chức sáng lập hiệp hội khoa học kỹ thuật quốc gia (NSF), nhóm điều hành sẽ chi trả cho các nhà chuyên môn trong nước và quốc tế. Vì vậy nó mang lại lợi ích cho các sinh viên, để phát triển việc quản lý nguồn nước tinh khiết sử dụng cái gọi là công nghệ ”màng lọc nước”.
“Membrane-based technologies selectively remove things such as chemicals and particles from water,” said Voice, professor of civil and environmental engineering. “They are analogous to filters except they remove things that are smaller and separate on the basis of chemistry and size. Our project is looking at developing new types of membranes and membrane systems that perform better in water treatment applications.”
“Công nghệ màng lọc nước lọc bỏ những thứ như các chất hóa học và các thành phần từ nước”Voice nói, kĩ sư và giảng viên môi trường. Dự án của chúng tôi đang xem xét việc phát triển các loại màng lọc mới và các hệ màng lọc thực hiện tốt hơn việc ứng dụng xử lý nước.
Membranes can produce ultrapure water, removing almost everything.
Màng lọc có thể sản xuất ra nước siêu tinh khiết, lọc bỏ hầu như mọi thứ.
“They are used in some places to turn sea water into fresh water,” said Voice. “The challenge is to do this cost effectively, and we seek to do this by improving their performance.”
“Chúng được dùng ở một số nơi để biến đổi nước biển thành nước sạch” Voice nói.”Thách thức là chi phí thực tế, và chúng tôi yêu cầu làm nó bằng cách tăng tính hiệu quả của chúng”.
Development of robust membranes is a significant opportunity to enhance the quality of water and, ultimately, public health, especially in developing countries.
Phát triển các màng lọc chất lượng là một cơ hội to lớn để nâng cao chất lượng nguồn nước và sau cùng là sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
“NSF’s initiative to invest in international education and research is relatively new,” said Tarabara, assistant professor of civil and environmental engineering. “It was motivated by the recognition that the world is becoming increasingly more global and that for American graduates to successfully compete with researchers from other countries, they have to be better prepared for the challenges of working in the global marketplace.”
“ Tổ chức sáng lập khoa học kỹ thuật quốc gia (NSF) có sáng kiến đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu quốc tế là tương đối mới” Tarabara nói (giáo sư trợ lý kỹ thuật dân dụng và môi trường). Nó đang được thúc đẩy bởi việc thừa nhận rằng thế giới đang tiến tới việc toàn cầu hóa hơn nữa và cho sinh viên Mỹ đã tốt nghiệp thành công trong sự cạnh tranh với các nhà nghiên cứu từ nước khác. Họ được chuẩn bị tốt hơn cho những thách thức của công việc trong chợ thương mại toàn cầu.
The team’s strength, said Tarabara, is that each institution brings something unique to the table.
Sức mạnh của nhóm, Tarabara nói, mỗi tổ chức sẽ mang đến một sản phẩm đơn nhất tới bảng danh sách các sản phẩm.
“For example, research to develop stronger hollow fiber membranes will unite the world-renowned expertise in carbon nanotube chemistry at Rice University with the knowledge of hollow fiber membrane manufacture and optimization at France’s National Polytechnic Institute of Toulouse,” he said.
Lấy ví dụ, nghiên cứu phát triển cấu trúc lớp màng rỗng mạnh hơn sẽ kết hợp với giới chuyên môn nổi tiếng trên thế giới trong lãnh vực hóa học về các dụng thù hình của cacbon tại trường đại học Rice, và những hiểu biết về tối ưu hóa trong việc chế tạo cấu trúc lớp màng rỗng tại trường đại học kỹ thuật quốc gia Toulouse của Ph áp” ông ta nói.
“Development of high-flux membranes to remove heavy metal contaminants will include the group in Kiev, which is heavily involved in this work due to local environmental contamination, along with a group from MSU which is developing high-flux membranes that reject large molecules.”
Phát triển màng lọc làm chảy kim loại cao để loại bỏ kim loại nặng độc hại sẽ do nhóm ở Kiev thực hiện.Công việc này sẽ ảnh hưởng nặng n ề tới ô nhiễm môi trường địa phương.Cùng với nhóm từ MSU đang phát triển màng lọc làm chảy kim loại cao để loại bỏ các phần tử lớn.
This project also internationalizes the experience of the students involved by enhancing the learning competencies that reflect the knowledge, attitudes and skills essential to living and working as global citizens when they graduate.
Dự án này còn là kinh nghiệm quốc tế cho các sinh viên có liên quan bằng cách nâng cao các kỹ năng quí giá phản ảnh các kiến thức. Các quan điểm và kỹ n ăng làm việc cần thiết như một công dân quốc tế khi họ tốt nghiệp.
“One premise of our partnership is that students are powerful catalysts for research collaboration,” Tarabara said. “Our research will be organized in international teams in which at least one doctoral student from a foreign institution will be teamed with a student from a U.S. institution.”
“Một tiền đề trong việc hợp tác của chúng tôi đó là sinh viên là chất xúc tác mạnh mẽ cho việc hợp tác nghiên cứu” Tarabara nói “Nghiên cứu của chúng tôi sẽ là tổ chức các nhóm quốc tế mà ít nhất một sinh viên đang nghiên cứu sinh từ một tổ chức nước ngoài sẽ cùng nhóm với một sinh viên khác đến từ một tổ chức của Mỹ.
Currently, seven graduate students – four from MSU and three from Duke University – are funded through this project.
Hiện nay bảy sinh viên tốt nghiệp- bốn sinh viên từ MSU và ba sinh viên từ đại học Duke đã được thâu nhận vào dự án này.
This project also emphasizes diversity in graduate student recruitment and works with existing conduits to K-12 programs. The partnership will maximize opportunities for involvement of underrepresented minorities and women and will have an impact on future generations of scientists, according to Tarabara.
Dự án này còn thể hiện tính đa dạng trong việc tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp và công việc đang tồn tại đến K 12 chương trình. Việc cộng tác sẽ làm tăng lên các cơ hội liên quan đến thiểu số không đúng mức và phụ nữ.Và sẽ có sự tác động đến khoa học thế hệ tương lai, theo ông Tarabara.
When the nonrenewable five-year, grant expires, Tarabara said, the project will live on.
Khi thời hạn được sử đến đến 5 năm, quá thời hạn cho phép, Tarabara nói, dự án sẽ tiếp tục tồn tại.
“We are working with industrial partners in the United States and abroad to ensure that the project is sustained after the NSF funding is over,” he said.
Chúng tôi đang làm việc với đối tác công nghiệp ở Mỹ và ở nước ngoài để đảm bảo rằng dự án được duy trì liên tục sau khi nguồn tài chính của tổ chức sáng lập khoa học kỹ thuật quốc gia (NSF) đã hết.
 
K

Krilinski

Guest
#9
Membrane-Based Technology For Water Purification Under Development
Công nghệ màng lọc làm sạch nước đang được phát triển.


Two Michigan State University professors, Volodymyr Tarabara and Tom Voice, are leading an ambitious project to purify the world’s waters. Tarabara and Voice are leading an international partnership of environmental engineers and scientists from two U.S. research universities, two research centers in France, and three institutions in Ukraine and Russia that will create new technologies for the project.
2 giáo sư của trường ĐH bang Michigan, Volodymyr và Voice đang triển khai một dự án đầy tham vọng về việc làm sạch các nguồn nước trên thế giới. Tarabara và Voice đứng đầu một hiệp hội quốc tế của những kỹ sư và nhà khoa học ngành môi trường đến từ các học viện của Mỹ, 2 trung tâm nghiên cứu của Pháp và 3 tổ chức của Ucraina và Nga, dự định chế tạo những công nghệ mới để thực hiện dự án này.


With the biggest funding of its kind – a $2.5 million grant – by the National Science Foundation (NSF), the team leaders are bringing together domestic and international expertise, as well as investing in students, to develop water purifying strategies using what are called “membrane-based” technologies.
Được tài trợ 2,5 triệu đô từ Tổ chức khoa học quốc gia - nguồn tài trợ lớn nhất từ phía các hiệp hội, ban điều hành đang quy tụ những chuyên gia cả trong và ngoài nước, cũng như đầu tư cho sinh viên, để phát triển những chiến lược làm sạch nước sử dụng công nghệ màng lọc"


“Membrane-based technologies selectively remove things such as chemicals and particles from water,” said Voice, professor of civil and environmental engineering. “They are analogous to filters except they remove things that are smaller and separate on the basis of chemistry and size. Our project is looking at developing new types of membranes and membrane systems that perform better in water treatment applications.”
Voice, giáo sư chuyên ngành xây dựng dân dụng và môi trường, cho biết: "
Công nghệ màng lọc sẽ loại bỏ một cách chọn lọc những thứ như chất hoá học và cặn bẩn ra khỏi nguồn nước. Nó gần như tương tự những bộ lọc thông thường, ngoài việc có thể gạn bỏ những chất nhỏ và riêng rẽ hơn dựa trên cơ sở là tính chất hoá học và kích thước của chất đó. Dự án của chúng tôi hướng tới việc phát triển nhưng loại màng lọc và hệ thống màng lọc mới mà có thể làm việc tốt hơn nữa trong các dụng cụ xử lý nước."




“They are used in some places to turn sea water into fresh water,” said Voice. “The challenge is to do this cost effectively, and we seek to do this by improving their performance.”
Ông Voice cũng cho biết: " Công nghệ này sẽ được dùng ở một số nơi để biến nước biển thành nước ngọt. Thách thức ở đây là vấn đề hiệu quả với chi phí bỏ ra và chúng tôi dự định tăng cường hơn nữa khả năng xử lý của chúng.



“NSF’s initiative to invest in international education and research is relatively new,” said Tarabara, assistant professor of civil and environmental engineering. “It was motivated by the recognition that the world is becoming increasingly more global and that for American graduates to successfully compete with researchers from other countries, they have to be better prepared for the challenges of working in the global marketplace.”
Ông Tarabara, phó giáo sư xây dựng dân dụng và môi trường cho biết: "Sáng kiến của NSF với việc đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu quốc tế là khá mới mẻ. Sáng kiến này đã được thúc đẩy bởi sự công nhận chung rằng thế giới đang ngày càng trở nên toàn cầu hơn và rằng, để những sinh viên Mỹ mới ra trường cạnh tranh thành công với những nhà nghiên cứu của các nước khác thì họ phải được chuẩn bị tốt hơn cho những thách thức của việc hoạt động trên thị trường toàn cầu.

The team’s strength, said Tarabara, is that each institution brings something unique to the table.
"Sức mạnh của đội là mỗi một tổ chức sẽ đóng góp những gì là độc đáo nhất của họ", Tarabara nói.


“For example, research to develop stronger hollow fiber membranes will unite the world-renowned expertise in carbon nanotube chemistry at Rice University with the knowledge of hollow fiber membrane manufacture and optimization at France’s National Polytechnic Institute of Toulouse,” he said.
"Vd, việc phát triển màng lọc dạng sợi rỗng sẽ liên kết các chuyên gia nổi tiếng toàn cầu về ngành hoá học trong ống nanô bằng carbon của trường ĐH Rice với những kiến thức về sản xuất và tối đa hoá màng lọc sợi rỗng của Viện nghiên cứu đa khoa quốc gia Pháp ở Toulouse." ông nói.


“Development of high-flux membranes to remove heavy metal contaminants will include the group in Kiev, which is heavily involved in this work due to local environmental contamination, along with a group from MSU which is developing high-flux membranes that reject large molecules.”
Việc phát triển màng lọc có độ nóng chảy cao để khử những chất độc hại của kim loại nặng được đảm trách bởi nhóm các nhà khoa học ở Kiev chuyên về những vấn đề liên quan tới sự ô nhiễm môi trường địa phương, và nhóm chuyên gia của MSU - nhóm đang phát triển loại màng lọc nhiệt chảy cao có khả năng loại bỏ những phân tử cỡ lớn.


This project also internationalizes the experience of the students involved by enhancing the learning competencies that reflect the knowledge, attitudes and skills essential to living and working as global citizens when they graduate.
"Dự án này cũng nhân rộng kinh nghiệm của những sinh viên chuyên ngành bằng việc nâgn cao chất lượng học, fản ánh qua kiến thức, thái độ và những kỹ năng cần thiết để sống và làm việc như những công dân toàn cầu sau khi tốt nghiệp."


“One premise of our partnership is that students are powerful catalysts for research collaboration,” Tarabara said. “Our research will be organized in international teams in which at least one doctoral student from a foreign institution will be teamed with a student from a U.S. institution.”
"Một tiền đề trong sự hợp tác của chúng tôi là những sinh viên đc chọn đều là những sinh viên suất xắc cho việc cộng tác nghiên cứu", Tarabara nói, "Việc nghiên cứu của chúng tôi sẽ đc tổ chức bởi những đội chuyên gia quốc tế, trong đó ít nhất 1 tiến sĩ trẻ của tổ chức nước ngoài sẽ cùng nhóm với 1 sinh viên Mỹ."


Currently, seven graduate students – four from MSU and three from Duke University – are funded through this project.
"Hiện tại, 7 sinh viên mới tốt nghiệp gồm 4 người của MSU và 3 của ĐH Duke đã được tài trợ nghiên cứu thông qua dự án này.



This project also emphasizes diversity in graduate student recruitment and works with existing conduits to K-12 programs. The partnership will maximize opportunities for involvement of underrepresented minorities and women and will have an impact on future generations of scientists, according to Tarabara.
Dự án này cũng nhấn mạnh vào tính đa dạng trogn việc tuyển dụng các cử nhân và cũng được đưa vào chương trình dạy học bậc phổ thông. Sự hợp tác sẽ đẩy mạnh những cơ hội tham gia cho những thiểu số it được biết đến và phụ nữ, đông thời tạo ảnh hưởng cho những thế hệ các nhà khoa học tương lai, trích lời ông Tarabara. ( K-12 = kindergarten to 12 = từ lớp mầm non đến lớp 12)


When the nonrenewable five-year, grant expires, Tarabara said, the project will live on.
"Ngay cả khi thời gian tài trợ 5 năm đã hết, và ko thể ký tiếp, thì dự án sẽ vẫn tiếp tục"


“We are working with industrial partners in the United States and abroad to ensure that the
project is sustained after the NSF funding is over,” he said.
"Chúng tôi đang làm việc với các đối tác công nghiệp Mỹ và nước ngoài để đảm bảo rằng dự án sẽ vẫn được duy trì sau khi tiền tài trợ của NSF hết."
 
S

Skinhead

Guest
#10
Em thử dịch phát :mad:, chắc vẫn còn nhiều lỗi. Có gì mong các chị chỉ bảo :beat:

Công nghệ sử dụng màng lọc cho việc làm tinh khiết nước đang trong quá trình triển khai.

Hai giáo sư Trường Đại học bang Michigan (MSU) là Volodymyr Tarabara và Tom Voice đang dẫn dắt một dự án đầy tham vọng là làm sạch nguồn nước trên thế giới. Hai ông đang chỉ đạo một chương trình hợp tác quốc tế giữa các kỹ sư và các nhà khoa học môi trường đến từ hai trường đại học của Mỹ, hai trung tâm nghiên cứu ở Pháp, và 3 cơ quan ở Ukraine và Nga để nghiên cứu các công nghệ mới phục vụ dự án.
Với ngân sách 2,5 triệu USD được coi là lớn nhất giành cho những nghiên cứu dạng này do Quỹ khoa học quốc gia cấp, nhóm điều hành dự án đang tập hợp các chuyên gia trong và ngoài nước cũng như là đầu tư vào các sinh viên, để triển khai các kế hoạch làm sạch nước bằng cách ứng dụng công nghệ “sử dụng màng lọc”.
Giáo sư Voice của khoa công trình dân dụng và môi trường cho biết: “Các công nghệ sử dụng màng lọc sẽ loại bỏ một cách có lựa chọn những thứ như các hạt và các chất hoá học khỏi nước. Chúng cũng giống như các bộ lọc nhưng khác ở chỗ chúng loại bỏ được những thứ nhỏ hơn và riêng biệt trên cơ sở hoá học và kích cỡ. Dự án của chúng tôi đang xem xét việc phát triển các màng và hệ màng mới hiệu quả hơn trong các thiết bị xử lý nước”.
Các màng lọc có thể cho ra loại nước siêu tinh khiết, loại bỏ hầu hết mọi thứ.
“Ở một số nơi, chúng được dùng để biến nước biển thành nước sạch. Thách thức ở đây là sử dụng chi phí một cách có hiệu quả. Và chúng tôi cố gắng làm điều này bằng cách cải tiến hiệu suất của chúng” giáo sư cho biết thêm.
“Sáng kiến của Quỹ khoa học quốc gia trong việc đầu tư vào nghiên cứu và giáo dục quốc tế là tương đối mới”,giáo sư trợ giảng khoa công trình dân dụng và môi trường Tarabara cho biết. “Động lực của nó chính là nhận thức rằng thế giới ngày một toàn cầu hoá hơn và nó cũng là để cho Sinh viên Mỹ tốt nghiệp cạnh tranh thành công đối với những nhà nghiên cứu của nước khác, họ cần sẵn sàng hơn nữa cho những thách thức từ việc hoạt động trong thị trường lao động toàn cầu”.
“Sức mạnh của làm việc theo nhóm chính là, mỗi viện sẽ đưa ra những chuyên môn thế mạnh của riêng mình cho dự án”, ông cho biết thêm.
“ Chẳng hạn, nghiên cứu để phát triển màng thớ rỗng mạnh hơn sẽ kếp hợp giới chuyên chuyên môn có tiếng về ngành hoá học sử dụng ống nano cácbon tại trường đại học Rice với chuyên môn về sản xuất và tối ưu hoá loại màng này của trường Đại học Bách khoa quốc gia Toulouse của Pháp.

Việc phát triển màng với dòng nơron mật độ cao để loại bỏ các chất gây ô nhiễm chứa kim loại nặng sẽ bao gồm nhóm ở Kiev, tham gia tích cực vào dự án này vì sự ô nhiễm môi trường tại địa phương, cùng với nhóm từ MSU đang nghiên cứu màng với dòng nơron mật độ cao để loại bỏ các phân tử lớn.

Dự án cũng sẽ quốc tế hoá những kinh nghiệm của các sinh viên tham gia bằng cách nâng cao khả năng tiếp thu, nó phản ánh trình độ, thái độ và kỹ năng cần thiết để sống và làm việc như những công dân toàn cầu khi họ tốt nghiệp. Một tiền đề trong sự hợp tác của chúng tôi đó là sinh viên sẽ đóng vai trò xúc tác mạnh mẽ cho việc hợp tác nghiên cứu. Chúng tôi sẽ tổ chức thành các nhóm quốc tế, trong đó có ít nhất một nghiên cứu sinh từ một cơ quan nước ngoài sẽ cùng nhóm với một sinh viên đến từ một cơ quan của Mỹ”.
Hiện nay, bảy sinh viên tốt nghiệp - bốn từ MSU và ba từ Đại học Duke – đã được tài trợ thông qua dự án này. Dự án còn nhấn mạnh đến tính đa dạng của việc tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp và các công việc liên quan đến các chương trình phổ thông (K -12: kindergarten through 12). Sự hợp tác này sẽ làm tăng các cơ hội sử dụng nước sạch của các dân tộc thiểu số và phụ nữ không nhận được sự quan tâm đúng mức, và nó cũng sẽ có tác động đến thế hệ các nhà khoa học tương lai. Khi thời hạn cố định năm năm cho việc tài trợ kết thúc, dự án sẽ vẫn tiếp tục tồn tại. Chúng tôi đang làm việc với các đối tác công nghiệp tại Mỹ và nước khác để đảm bảo rằng dự án sẽ vẫn được duy trì sau khi hết nguồn tài trợ từ Quỹ khoa học quốc gia”, ông kết luận.
 
Last edited by a moderator:
A

aivanhoe

Guest
#11
Cuối tuần post thêm một bài nữa để mọi người dịch cho vui nhé!!

Montreal highway structures found crumbling

A civil engineering professor at McGill University found serious problems with the highway infrastructure of downtown Montreal during an investigation for a report published in the Montreal Gazette. M. Saeed Mirza, P.Eng. is a structural engineering specialist who joined the university's department of civil engineering in 1966. He is currently chair of the Canadian Society for Civil Engineering technical committee on the rehabilitation of infrastructure.Asked by the Gazette to identify what he considered some of the most dangerous structures in the city, Mirza took the reporter to four sites. The results were reported in an article written by William Marsden, entitled "Design, build, forget: a flawed formula." It appeared in the June 16 edition of the newspaper. Mirza rated the safety of the four structures on a scale of 1 to 10 and said anything under 5 was unsafe. He gave the worst score of 3.5 to a column supporting the Ville Marie Expressway downtown near Green Avenue. Mirza found "huge cracks that spread from the middle of the pillar upward and outward." Having identified it as a "classic shear failure," Mirza said it could have been caused by a movement and was serious. Around the same time as Mirza was doing the field investigation, sections of the Ville-Marie Expressway at Green Avenue and at Fort Street were closed to heavy trucks for a period because of the safety concerns. The other structures that Mirza and the reporters showed deterioration, though it was not quite so serious. All three scored 6.5. Typical was the Angrignon Boulevard overpass on Highway 20, the main east-west route in from the Ontario border. There they found severely corroded support columns, "with large chunks of concrete falling off from top to bottom" and rusting rebar exposed all the way up the side. Mirza decided moisture was getting into the column and causing the corrosion, partly because the concrete cover was thinner than it would be today (25-50 millimetres, versus 55 millimetres today). As well he found that the design of the joint above the column was not helping matters because it allowed water inside the column and there was not enough provision for drainage. "On all these spans," Mirza said, "drainage has been a major problem." He added harsh words for engineers: "Unfortunately, engineers are to blame. We like to say we design everything perfectly. We do all kinds of excellent calculations. But when it comes to construction it's not right."Drivers in Quebec are especially sensitive to the poor state of the province's infrastructure after an overpass in Laval collapsed last September, killing five people travelling below it. The Laval overpass has been rebuilt and was reopened in June, but the inquiry into the cause of the bridge collapse is still proceeding.
 
C

cat2810

Guest
#12
Mình dịch thử bài của bạn Aivanhoe, sai đâu các bạn sửa giúp nhé. Thanks.

Phát hiện nứt vỡ ở một số kết cấu trên đường cao tốc Montreal.

Một giáo sư công trình thuộc đại học McGill đã phát hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với cơ sở hạ tầng đường cao tốc của khu vực sầm uất Montreal trong quá trình khảo sát thực hiện một bản báo cáo đã được đăng trên Công báo Montreal.
Ông Saeed Mirza (giáo sư ngành công trình) là một chuyên gia về kết cấu công trình, người gia nhập ban công trình thuộc đại học McGill từ năm 1966. Ông là chủ tịch đương nhiệm của Uỷ ban kỹ thuật công trình Canada chịu trách nhiệm nâng cấp, phục hồi cơ sở hạ tầng. Được hỏi bởi tờ Công báo Canada xác nhận những điều ông đã nghiên cứu về một số kết cấu nguy hiểm trong thành phố, ông Mirza đã đưa ra báo cáo về 4 vị trí.
Các kết quả được đưa ra trong bài báo viết bởi William Marsden, có tiêu đề “ Thiết kế, xây dựng: một công thức thiếu hoàn chỉnh”. Bài báo này nằm trong ấn bản ngày 16 tháng 6 của tạp chí. Mirza đánh giá mức độ an toàn của bốn kết cấu được nghiên cứu theo thang điểm từ 1 đến 10, và nói rằng bất cứ một kết cấu nào có thang điểm dưới 5 đều không an toàn. Ông đã đưa ra điểm an toàn thấp nhất là 3.5 với trụ cầu đường cao tốc Ville Marie trong khu vực sầm uất gần Green Avenue. Mirza đã phát hiện “Nhiều vết nứt rất lớn phát triển từ giữa trụ lên trên và xuống dưới” Nó được xác nhận như một dạng “ thiếu khả năng chống cắt cơ bản”. Ông Mirza nói nó có thể do nguyên nhân từ một sự dịch chuyển, và là vấn đề nghiêm trọng.
Cũng trong thời gian khi Mirza thực hiện công tác điều tra khảo sát, các bộ phận của đường cao tốc Ville Marie ở Green Avenue và Fort Street đã được đóng lại đối với xe tải nặng trong một thời gian bởi lý do an toàn có liên quan. Với các kết cấu còn lại, Mirza và các báo cáo của ông cũng đã chỉ ra hư hỏng, các trường hợp không quá nghiêm trọng. Ba trường hợp còn lại đạt 6.5 điểm. Điển hình là cầu vượt Angrignon Boulevard trên xa lộ 20 – tuyến chính nối Đông Tây bắt đầu từ biên giới Ontario. Tại đó, họ phát hiện một số trụ đỡ bị ăn mòn, “với những mảng bê tông lớn rớt xuống, từ đỉnh tới đáy” và cốt thép thanh bị gỉ lộ ra toàn bộ bề mặt.
Mirza cho rằng hơi ẩm đã tồn tại trong trụ và là nguyên nhân gây rỉ, một phần bởi vì lớp bê tông bảo hộ quá mỏng so với lớp bảo hộ được làm hiện nay (25-50mm so với 55mm hiện hành). Ông cũng phát hiện thiết kế mối nối trên trụ không giúp xử lý được vấn đề, bởi nó cho phép nước ở trong trụ mà lại không có đủ hệ thống dành cho thoát nước. “Trên các nhịp đó” Mirza nói, “thoát nước đang là một vấn đề lớn”. Ông ấy thêm những từ nghiêm khắc đối với các kỹ sư:” Thật không may, các kỹ sư đáng bị khiển trách. Chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi đã thiết kế mọi thứ một cách đầy đủ. Chúng tôi thực hiện mọi tính toán. Nhưng khi hiện thực quá trình xây dựng thì không ổn”. Các tài xế ở Quebec đang nhạy cảm đặc biệt với tình trạng tồi tệ của cơ sơ hạ tầng trong tỉnh sau khi một cầu vượt ở Laval sụp đổ tháng 9 năm ngoái, giết chết 5 người dưới cầu. Cầu vượt Laval đã được xây dựng và vận hành lại vào tháng 6 năm nay, nhưng việc điều tra nguyên nhân của vụ sập cầu vẫn đang tiếp diễn.
 
T

truc_nguyen862000

Guest
#13
Default Cho E Xin file Thuyết minh TKCS của phần giao thông (đường) trong Khu công nghiệp Tình

Cho E Xin file Thuyết minh TKCS của phần giao thông (đường) trong Khu công nghiệp


Tình hình là e mới xin làm bên Cty thiết kế, họ bắt e phải làm thuyết minh thiết kế cơ sở phần giao thông, mà e trc giờ toàn làm thi công, nên hơi mù mờ. Các Sư phụ chỉ giáo giùm E. E ko quên ơn. Thanks...
Nếu các Sư phụ mail cho e thì e còn mang ơn nhiều, nếu ở SG e sẽ hậu tạ.​